02123.843.274

02123.843406

CÔNG TY CỔ PHẦN MÍA ĐƯỜNG SƠN LA

  • Tiếng Việt
  • English

Hướng đi nào cho ngành mía đường VN

Số phận của ngành mía đường và người trồng mía VN đang thực sự đáng báo động khi Hiệp định AFTA có hiệu lực vào năm 2015 đang đến gần với thuế suất nhập khẩu hàng hóa từ ASEAN vào VN sẽ bằng 0%.

Việc cơ cấu lại tổ chức, sản xuất, quản lý ngành mía đường là điều cần làm. Và nó đòi hỏi sự chung sức của nhiều cơ quan chức năng, các nhà hoạch định chính sách và chính người trồng mía.

Bắt đầu từ vùng nguyên liệu

Người thực hiện chương trình 1 triệu tấn đường - ông Nguyễn Công Tạn cho rằng, chương trình sản xuất 1 triệu tấn đường đến nay đã hoàn thành, vượt kế hoạch đề ra, và đang hướng tới 2 triệu tấn đường vào năm 2020 nhằm phục vụ tiêu thụ trong nước và XK. Đạt được như vậy là do chính sách của Chính phủ thời gian qua đã giải quyết được hai trục trặc lớn nhất của ngành mía đường là chính sách tài chính, giải quyết nguồn vốn hỗ trợ, không phải vay lãi suất cao; thứ hai là cổ phần hóa các DN mía đường. Nhờ hai chính sách đó mà ngành mía đường ổn định và phát triển. Nhà nước giảm thiểu việc nhập khẩu đường tốn hàng tỷ đô la Mỹ mỗi năm, tạo hàng triệu việc làm cho người lao động vùng nông thôn. Có nhiều vùng nông dân giàu lên nhờ trồng mía như Tuyên Quang, Sơn La, Cao Bằng, Hòa Bình, Thanh Hóa... Do vậy, ngành mía đường buộc phải làm cuộc cách mạng từ cây mía cho đến hạt đường để giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh trên thương trường. Muốn làm được như vậy thì thứ nhất phải cấu trúc lại diện tích cây mía; thứ hai là giống mía.

Theo ông Tạn, một số vùng trồng mía không hiệu quả như đất đồi cao, sỏi đá, đất xấu bạc màu thì nên khuyến khích nông dân chuyển sang cây trồng khác. Đồng thời chuyển một số diện tích đất trồng lúa một vụ sang trồng mía bởi một hét ta đất lúa cao lắm chỉ 1/3 doanh thu so với người trồng mía. Do vậy, phải hình thành nhanh các vùng nguyên liệu mía tập trung để đưa cơ giới hóa vào sản xuất. Đặc biệt ở hai khâu làm đất và khâu thu hoạch thì chi phí sản xuất giảm, theo đó đưa giá thành phẩm sẽ giảm theo. Thứ hai là giống mía, phải khai thác các loại giống cho năng suất và chữ đường cao để tăng hàm lượng đường trong cây mía.

Đồng quan điểm, TS Nguyễn Đức Quang - Viện trưởng Viện nghiên cứu mía đường (SRI) cũng nhìn nhận, là quốc gia có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây mía nhưng năng suất trung bình của VN chỉ bằng khoảng 70% so với thế giới. Việc trình độ canh tác lạc hậu, cơ giới hóa thấp khiến chi phí sản xuất tăng cao đã làm giảm đi sức cạnh tranh của ngành mía đường VN.

Theo TS Quang, hiện giống mía của VN khoảng 90% có nguồn gốc nhập từ nước ngoài, điều này có nghĩa là tiềm năng năng suất của giống mía hiện tại là rất lớn nhưng khi trồng tại VN lại cho ra năng suất thấp hơn so với các nước khác là do canh tác mía của ta chưa tốt. Bằng chứng là niên vụ mía đường vừa qua (2012 – 2013) năng suất mía trung bình của VN chỉ đạt 64 tấn/héc ta. Nguyên nhân cho năng suất cây mía thấp là do một phần vì kinh phí đầu tư phân bón, thủy lợi, phòng trừ cỏ và sâu hại còn hạn hẹp. Ngoài ra, một điều nữa góp phần đưa giá thành cao là do một số nhà máy chưa tận dụng được những phụ phẩm như bã mía, mật rỉ mía để sản xuất phân bón, bánh kẹo, điện hay cồn sinh học... Đó là tất cả những gì khiến ngành mía đường VN nhìn chung luôn có chi phí sản xuất đường lớn hơn các nước khác.


Ứng dụng cơ giới hóa vào khâu thu hoạch của ngành mía đường

Đến cơ chế điều hành cho ngành mía đường

Nhà nông học, GS.TS Võ Tòng Xuân chỉ rõ, khi đầu tư các nhà máy đường trên các địa bàn trong nước, chúng ta không có đủ dữ kiện khoa học cụ thể của từng vùng trồng mía để giúp cho các nhà máy ổn định và phát triển vùng mía nguyên liệu. Do vậy, việc phải làm hiện nay là các DN mía đường cần đầu tư kinh phí để thiết lập các chương trình nghiên cứu cây mía VN từ các viện, trường đại học sẵn có tại các vùng sinh thái, đồng thời cần cải tiến công tác đào tạo cán bộ cho ngành mía đường. Trong đó, vai trò nhà nước sẽ ban hành những chính sách và hành động cụ thể qua việc thành lập cơ quan quản lý chính sách về mía đường, xây dựng tỷ lệ ăn chia giữa nhà máy và người trồng mía, khối lượng xuất và nhập khẩu, quy định giá đường ở thị trường trong nước… Người trồng mía cũng cần bảo vệ lẫn nhau bằng cách thành lập "Hiệp hội nông dân trồng mía". Người trồng mía phải triệt để tôn trọng quy hoạch vùng mía theo nhà máy đường. Có thể ứng dụng thực tiễn theo chính sách ăn chia đường thành phẩm 70:30 như Thái Lan và Philippines. Bởi theo GS.TS Xuân, xây dựng một chính sách hữu hiệu cho ngành mía đường VN không phải là khó. Vấn đề ở đây là liệu chừng nào nhà nước mới thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc duy trì và phát huy ngành mía đường VN không thua các nước khác.

Nhận xét về phát triển của ngành mía đường VN thời gian qua, ông Leon Arceo, Tổng Giám đốc Viện Nghiên cứu mía đường Philippines (Philsurin) cho rằng, so về công nghệ, kỹ thuật chế biến đường... nhiều nhà máy đường của VN được đầu tư bài bản và hiện đại hơn cả một số quốc gia khác như Philippines, Brazil, Úc..., nhưng về quản lý trồng mía, vùng mía nguyên liệu thì VN lại quá thấp. Theo ông Leon Arceo, khả năng để mía đường VN đi lên là rất cao, nhưng cái đáng lo nhất ở đây chính là sự nghiêm minh trong thực hiện các quy định mang tính pháp lý để hỗ trợ việc thực thi các đường lối phát triển cho ngành mía đường. Vì vậy, vấn đề cần làm ngay ở đây chính là cải cách chính sách nhà nước đối với ngành mía đường và sau đó việc thực hiện của toàn ngành phải theo đúng pháp luật. Bởi, nếu các mối quan hệ trong hỗ trợ, đối tác vẫn trì trệ, xé rào và thả nổi như thời gian qua thì khả năng tái diễn điệp khúc lên - xuống của mía đường là vô cùng lớn, và ngành mía đường VN thực sự khó có thể phát triển bền vững nếu như vẫn điều hành, quản lý như hiện nay.

Trong vai trò hiệp hội ngành hàng, ông Nguyễn Hải - Tổng thư ký Hiệp hội mía đường VN (VSSA), cho biết, để chuẩn bị cho hội nhập, các DN mía đường VN từ lâu cũng đã ý thức được rằng phải hạ giá thành để nâng cao sức cạnh tranh. Các nhà máy đường phần lớn đã mở rộng công suất và hiện đại hóa công nghệ cũng như thiết bị chứ không còn dây chuyền cũ như hồi mới xây dựng. Qua so sánh thì thấy, công nghệ và thiết bị của một số nhà máy đường của VN như Lam Sơn, Việt Đài, Tate&Lyle Nghệ An, KCP, KSC, Bourbon Tây Ninh… không thua kém nhiều nước trên thế giới, thậm chí còn hiện đại và tốt hơn, chất lượng sản phẩm cũng không thua kém so với thế giới. Tuy nhiên, các nhà máy đường chỉ có thể tác động vào giá trong công nghiệp sản xuất. Trong khi phần này chỉ chiếm khoảng 20 - 25% giá thành đường, phần còn lại là giá mía nguyên liệu đầu vào lại chiếm tới 75 - 80%. Do vậy, tính cạnh tranh kém của ngành mía đường VN chính là ở phần cây mía nguyên liệu, chứ không phải ở nhà máy.

Theo ông Hải, để ngành mía đường VN phát triển bền vững, khắc phục được những bất cập hiện nay thì vai trò nhà nước và các nhà máy đường phải đẩy mạnh khâu nghiên cứu giống, nhanh chóng đưa các giống mới vào sản xuất. Song song đó, đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành mía đường như thủy lợi tưới và tiêu nước, đưa cơ giới hóa vào canh tác từ khâu trồng, làm đất, đặt hom, chăm sóc, thu hoạch và vận chuyển… Cùng với việc xây dựng những chính sách kiểm soát thị trường cho bình đẳng, minh bạch, điều tiết xuất nhập khẩu qua chính sách dài hạn theo quy luật cung cầu. Song song đó, Nhà nước cần ban hành cơ chế dự trữ bình ổn giá đối với mặt hàng đường, cơ chế quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm đối với đường ăn trên thị trường, chống bán phá giá đối với đường nhập khẩu. Đồng thời kiên quyết ngăn chặn tình trạng buôn lậu đường và gian lận thương mại trong việc tạm nhập tái xuất... Từ thực trạng đó, để tái cơ cấu lại ngành, VSSA đề xuất Nhà nước sớm xem xét ban hành một nghị định về chính sách quản lý ngành mía đường để đảm bảo sự phát triển bền vững và hoàn thành mục tiêu đạt 2 triệu tấn đường vào năm 2020.

Ông Nguyễn Công Tạn - Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ: Giống + vùng nguyên liệu + quản lý

Thiết bị sản xuất của các nhà máy đường được các DN đầu tư khá bài bản và nhập từ các nước tiên tiến. Nhiều nhà máy có công suất lên đến 8.000 tấn mía/ngày. Cả hai loại sản phẩm đường RE và RS đều đạt chất lượng cao, đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi khắc khe của thị trường và người tiêu dùng. Vì vậy, tái cấu trúc của ngành mía đường chính là khâu giống, vùng nguyên liệu và quản lý để nâng sức cạnh tranh về giá là việc mà ngành mía đường VN buộc phải làm trong thời gian tới.

GS.TS Võ Tòng Xuân: Chưa theo luật chung

Ngành mía đường VN hiện nay chưa điều hành theo luật như một số quốc gia trên thế giới, các giải pháp xử lý chỉ mang tính đối phó tình huống, giải quyết khó khăn tạm thời, không đủ tính đồng bộ, cho nên thường xuyên xảy ra các vấn đề phát sinh mới. Do vậy câu chuyện người trồng mía ở nước ta cứ loay hoay lo chuyện “trúng mùa, thất giá” và điệp khúc “trồng – chặt” luôn ám ảnh người nông dân thì ở nhiều quốc gia trên thế giới, ngành mía đường được đầu tư bài bản, chính sách quản lý, điều hành rõ ràng và cụ thể đã tạo thuận lợi để cho cả nông dân và nhà máy đường đều hưởng lợi.

Theo DĐDN

Hướng đi nào cho ngành mía đường VN

Kỳ I: Cấu trúc lại ngành mía đường

(DĐDN) - Số phận của ngành mía đường và người trồng mía VN đang thực sự đáng báo động khi Hiệp định AFTA có hiệu lực vào năm 2015 đang đến gần với thuế suất nhập khẩu hàng hóa từ ASEAN vào VN sẽ bằng 0%.

Ứng dụng cơ giới hóa vào khâu thu hoạch của ngành mía đường

Việc cơ cấu lại tổ chức, sản xuất, quản lý ngành mía đường là điều cần làm. Và nó đòi hỏi sự chung sức của nhiều cơ quan chức năng, các nhà hoạch định chính sách và chính người trồng mía.

Bắt đầu từ vùng nguyên liệu

Người thực hiện chương trình 1 triệu tấn đường - ông Nguyễn Công Tạn cho rằng, chương trình sản xuất 1 triệu tấn đường đến nay đã hoàn thành, vượt kế hoạch đề ra, và đang hướng tới 2 triệu tấn đường vào năm 2020 nhằm phục vụ tiêu thụ trong nước và XK. Đạt được như vậy là do chính sách của Chính phủ thời gian qua đã giải quyết được hai trục trặc lớn nhất của ngành mía đường là chính sách tài chính, giải quyết nguồn vốn hỗ trợ, không phải vay lãi suất cao; thứ hai là cổ phần hóa các DN mía đường. Nhờ hai chính sách đó mà ngành mía đường ổn định và phát triển. Nhà nước giảm thiểu việc nhập khẩu đường tốn hàng tỷ đô la Mỹ mỗi năm, tạo hàng triệu việc làm cho người lao động vùng nông thôn. Có nhiều vùng nông dân giàu lên nhờ trồng mía như Tuyên Quang, Sơn La, Cao Bằng, Hòa Bình, Thanh Hóa... Do vậy, ngành mía đường buộc phải làm cuộc cách mạng từ cây mía cho đến hạt đường để giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh trên thương trường. Muốn làm được như vậy thì thứ nhất phải cấu trúc lại diện tích cây mía; thứ hai là giống mía.

Theo ông Tạn, một số vùng trồng mía không hiệu quả như đất đồi cao, sỏi đá, đất xấu bạc màu thì nên khuyến khích nông dân chuyển sang cây trồng khác. Đồng thời chuyển một số diện tích đất trồng lúa một vụ sang trồng mía bởi một hét ta đất lúa cao lắm chỉ 1/3 doanh thu so với người trồng mía. Do vậy, phải hình thành nhanh các vùng nguyên liệu mía tập trung để đưa cơ giới hóa vào sản xuất. Đặc biệt ở hai khâu làm đất và khâu thu hoạch thì chi phí sản xuất giảm, theo đó đưa giá thành phẩm sẽ giảm theo. Thứ hai là giống mía, phải khai thác các loại giống cho năng suất và chữ đường cao để tăng hàm lượng đường trong cây mía.

Đồng quan điểm, TS Nguyễn Đức Quang - Viện trưởng Viện nghiên cứu mía đường (SRI) cũng nhìn nhận, là quốc gia có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây mía nhưng năng suất trung bình của VN chỉ bằng khoảng 70% so với thế giới. Việc trình độ canh tác lạc hậu, cơ giới hóa thấp khiến chi phí sản xuất tăng cao đã làm giảm đi sức cạnh tranh của ngành mía đường VN.

Theo TS Quang, hiện giống mía của VN khoảng 90% có nguồn gốc nhập từ nước ngoài, điều này có nghĩa là tiềm năng năng suất của giống mía hiện tại là rất lớn nhưng khi trồng tại VN lại cho ra năng suất thấp hơn so với các nước khác là do canh tác mía của ta chưa tốt. Bằng chứng là niên vụ mía đường vừa qua (2012 – 2013) năng suất mía trung bình của VN chỉ đạt 64 tấn/héc ta. Nguyên nhân cho năng suất cây mía thấp là do một phần vì kinh phí đầu tư phân bón, thủy lợi, phòng trừ cỏ và sâu hại còn hạn hẹp. Ngoài ra, một điều nữa góp phần đưa giá thành cao là do một số nhà máy chưa tận dụng được những phụ phẩm như bã mía, mật rỉ mía để sản xuất phân bón, bánh kẹo, điện hay cồn sinh học... Đó là tất cả những gì khiến ngành mía đường VN nhìn chung luôn có chi phí sản xuất đường lớn hơn các nước khác.

Đến cơ chế điều hành cho ngành mía đường

Nhà nông học, GS.TS Võ Tòng Xuân chỉ rõ, khi đầu tư các nhà máy đường trên các địa bàn trong nước, chúng ta không có đủ dữ kiện khoa học cụ thể của từng vùng trồng mía để giúp cho các nhà máy ổn định và phát triển vùng mía nguyên liệu. Do vậy, việc phải làm hiện nay là các DN mía đường cần đầu tư kinh phí để thiết lập các chương trình nghiên cứu cây mía VN từ các viện, trường đại học sẵn có tại các vùng sinh thái, đồng thời cần cải tiến công tác đào tạo cán bộ cho ngành mía đường. Trong đó, vai trò nhà nước sẽ ban hành những chính sách và hành động cụ thể qua việc thành lập cơ quan quản lý chính sách về mía đường, xây dựng tỷ lệ ăn chia giữa nhà máy và người trồng mía, khối lượng xuất và nhập khẩu, quy định giá đường ở thị trường trong nước… Người trồng mía cũng cần bảo vệ lẫn nhau bằng cách thành lập "Hiệp hội nông dân trồng mía". Người trồng mía phải triệt để tôn trọng quy hoạch vùng mía theo nhà máy đường. Có thể ứng dụng thực tiễn theo chính sách ăn chia đường thành phẩm 70:30 như Thái Lan và Philippines. Bởi theo GS.TS Xuân, xây dựng một chính sách hữu hiệu cho ngành mía đường VN không phải là khó. Vấn đề ở đây là liệu chừng nào nhà nước mới thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc duy trì và phát huy ngành mía đường VN không thua các nước khác.

Nhà nước sớm xem xét ban hành một nghị định về chính sách quản lý ngành mía đường để đảm bảo sự phát triển bền vững.

Nhận xét về phát triển của ngành mía đường VN thời gian qua, ông Leon Arceo, Tổng Giám đốc Viện Nghiên cứu mía đường Philippines (Philsurin) cho rằng, so về công nghệ, kỹ thuật chế biến đường... nhiều nhà máy đường của VN được đầu tư bài bản và hiện đại hơn cả một số quốc gia khác như Philippines, Brazil, Úc..., nhưng về quản lý trồng mía, vùng mía nguyên liệu thì VN lại quá thấp. Theo ông Leon Arceo, khả năng để mía đường VN đi lên là rất cao, nhưng cái đáng lo nhất ở đây chính là sự nghiêm minh trong thực hiện các quy định mang tính pháp lý để hỗ trợ việc thực thi các đường lối phát triển cho ngành mía đường. Vì vậy, vấn đề cần làm ngay ở đây chính là cải cách chính sách nhà nước đối với ngành mía đường và sau đó việc thực hiện của toàn ngành phải theo đúng pháp luật. Bởi, nếu các mối quan hệ trong hỗ trợ, đối tác vẫn trì trệ, xé rào và thả nổi như thời gian qua thì khả năng tái diễn điệp khúc lên - xuống của mía đường là vô cùng lớn, và ngành mía đường VN thực sự khó có thể phát triển bền vững nếu như vẫn điều hành, quản lý như hiện nay.

Trong vai trò hiệp hội ngành hàng, ông Nguyễn Hải - Tổng thư ký Hiệp hội mía đường VN (VSSA), cho biết, để chuẩn bị cho hội nhập, các DN mía đường VN từ lâu cũng đã ý thức được rằng phải hạ giá thành để nâng cao sức cạnh tranh. Các nhà máy đường phần lớn đã mở rộng công suất và hiện đại hóa công nghệ cũng như thiết bị chứ không còn dây chuyền cũ như hồi mới xây dựng. Qua so sánh thì thấy, công nghệ và thiết bị của một số nhà máy đường của VN như Lam Sơn, Việt Đài, Tate&Lyle Nghệ An, KCP, KSC, Bourbon Tây Ninh… không thua kém nhiều nước trên thế giới, thậm chí còn hiện đại và tốt hơn, chất lượng sản phẩm cũng không thua kém so với thế giới. Tuy nhiên, các nhà máy đường chỉ có thể tác động vào giá trong công nghiệp sản xuất. Trong khi phần này chỉ chiếm khoảng 20 - 25% giá thành đường, phần còn lại là giá mía nguyên liệu đầu vào lại chiếm tới 75 - 80%. Do vậy, tính cạnh tranh kém của ngành mía đường VN chính là ở phần cây mía nguyên liệu, chứ không phải ở nhà máy.

Theo ông Hải, để ngành mía đường VN phát triển bền vững, khắc phục được những bất cập hiện nay thì vai trò nhà nước và các nhà máy đường phải đẩy mạnh khâu nghiên cứu giống, nhanh chóng đưa các giống mới vào sản xuất. Song song đó, đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành mía đường như thủy lợi tưới và tiêu nước, đưa cơ giới hóa vào canh tác từ khâu trồng, làm đất, đặt hom, chăm sóc, thu hoạch và vận chuyển… Cùng với việc xây dựng những chính sách kiểm soát thị trường cho bình đẳng, minh bạch, điều tiết xuất nhập khẩu qua chính sách dài hạn theo quy luật cung cầu. Song song đó, Nhà nước cần ban hành cơ chế dự trữ bình ổn giá đối với mặt hàng đường, cơ chế quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm đối với đường ăn trên thị trường, chống bán phá giá đối với đường nhập khẩu. Đồng thời kiên quyết ngăn chặn tình trạng buôn lậu đường và gian lận thương mại trong việc tạm nhập tái xuất... Từ thực trạng đó, để tái cơ cấu lại ngành, VSSA đề xuất Nhà nước sớm xem xét ban hành một nghị định về chính sách quản lý ngành mía đường để đảm bảo sự phát triển bền vững và hoàn thành mục tiêu đạt 2 triệu tấn đường vào năm 2020.

Ông Nguyễn Công Tạn - Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ: Giống + vùng nguyên liệu +quản lý

Thiết bị sản xuất của các nhà máy đường được các DN đầu tư khá bài bản và nhập từ các nước tiên tiến. Nhiều nhà máy có công suất lên đến 8.000 tấn mía/ngày. Cả hai loại sản phẩm đường RE và RS đều đạt chất lượng cao, đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi khắc khe của thị trường và người tiêu dùng. Vì vậy, tái cấu trúc của ngành mía đường chính là khâu giống, vùng nguyên liệu và quản lý để nâng sức cạnh tranh về giá là việc mà ngành mía đường VN buộc phải làm trong thời gian tới.

GS.TS Võ Tòng Xuân: Chưa theo luật chung

Ngành mía đường VN hiện nay chưa điều hành theo luật như một số quốc gia trên thế giới, các giải pháp xử lý chỉ mang tính đối phó tình huống, giải quyết khó khăn tạm thời, không đủ tính đồng bộ, cho nên thường xuyên xảy ra các vấn đề phát sinh mới. Do vậy câu chuyện người trồng mía ở nước ta cứ loay hoay lo chuyện “trúng mùa, thất giá” và điệp khúc “trồng – chặt” luôn ám ảnh người nông dân thì ở nhiều quốc gia trên thế giới, ngành mía đường được đầu tư bài bản, chính sách quản lý, điều hành rõ ràng và cụ thể đã tạo thuận lợi để cho cả nông dân và nhà máy đường đều hưởng lợi.

Tin liên quan